Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Việt Anh)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • lượt truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    CUUNON_CHUC_TET.swf 535587_346776165442251_1103757000_n1.jpg Anh_nghe_thuat1.jpg New.jpg DefaultCADYVB06.jpg DefaultCA5OBBY6.jpg 1000daibieu1.jpg DefaultCAS6R99Q.jpg Default10.jpg DefaultCA8WPKJ2.jpg DefaultCAJM6GC11.jpg DefaultCABIUKAL.jpg DefaultCAG131ZH.jpg VIDEO_CLIP_ONLINET.gif DefaultCABP3RAH1.jpg Mp3 Book1.jpg P81.gif Mp3 _38116332_back_stroke1.gif

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Chào mừng các thầy cô giáo và các em học sinh đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Kho tư liệu, phần mềm, giáo trình > Giáo trình >

    GIÁO TRÌNH VẬT LIỆU.

    mỤC LỤC

    Chương 1. 7

    TỔNG QUAN.. 7

    1.1                                                                                     KHÁI NIỆM VỀ VẬT LIỆU. 7

    1.1.1.................................................................................................. Khái niệm chung. 7

    Vật liệu theo cách hiểu phổ biến nhất là những vật rắn mà con người dùng để chế tạo ra các máy móc, thiết bị, dụng cụ, v.v… trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, trong xây dựng các công trình, nhà cửa hay thay thế các bộ phận cơ thể con người hoặc để thể hiện các ý đồ nghệ thuật, v.v. 7

    1.1.2................................................................................................. Phân loại vật liệu. 7

    1.1.2.1.......................................................................................... Vật liệu kim loại. 7

    1.1.2.2  Vật liệu vô cơ – ceramíc. 8

    1.1.2.3 Vật liệu hữu cơ – polyme. 8

    1.1.2.4  Vật liệu kết hợp – compozit. 8

    1.1.3  LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU. 9

    1.1.3.1................................................................. Giai đoạn tiền sử của loài người. 9

    1.1.3.2........................... Giai đoạn chế tạo và sử dụng vật liệu theo kinh nghiệm. 10

    1.1.3.3............... Giai đoạn chế tạo và sử dụng vật liêu theo kiến thức khoa học. 10

    1.2                                                  NHỮNG TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA VẬT LIỆU. 12

    1.2.1...................................................................... Ba yêu cầu cơ bản đối với vật liệu. 12

    1.2.2................................................................... Những tính chất cơ bản của vật liệu. 12

    Giới hạn bền được tính theo công thức: 13

    CHƯƠNG 3. 24

    CẤU TẠO HỢP KIM VÀ GIẢN ĐỒ TRẠNG THÁI. 24

    3.1. Các khái niệm cơ bản. 24

    3.1.1. Khái niệm hợp kim.. 24

    3.1.2. Đặc điểm của hợp kim.. 24

    3.1.3. Các định nghĩa cơ bản về hợp kim.. 24

    3.2. Các dạng cấu trúc hợp kim cơ bản. 25

    3.2.1. Dung dịch rắn. 25

    3.2.1.1. Khái niệm.. 25

    3.2.1.2. Phân loại dung dịch rắn. 25

    3.2.1.3.Tính chất chung của dung dịch rắn. 28

    3.2.2. Các pha trung gian. 28

    3.2.2.1. Khái niệm.. 28

    3.2.2.2. Các loại pha trung gian. 28

    3.2.3. Hỗn hợp cơ học. 29

    3.2.3.1. Khái niệm.. 29

    3.2.3.2. Các loại hỗn hợp cơ học. 30

    3.2.3.3. Thành phần tạo nên hỗn hợp cơ học. 30

    3.3. Giản đồ trạng thái của hợp kim.. 30

    3.3.1. Khái niệm.. 30

    3.3.2. ý nghĩa và phương pháp xây dựng giản đồ trạng thái 30

    3.3.2.1. ý nghĩa. 30

    3.3.2.2. Phương pháp xây dựng. 30

    3.3.3. Một số loại giản đồ trạng thái hai nguyên cơ bản. 31

    3.3.3.1. Giản đồ hệ hai nguyên hòa tan vô hạn ở trạng thái lỏng và trạng thái rắn. 31

    3.3.3.2. Giản đồ hệ hai nguyên hòa tan vô hạn ở lỏng, không hòa tan ở trạng thái rắn và có tạo thành cùng tinh. 32

    3.3.3.4. Giản đồ hệ hai nguyên hòa tan vô hạn ở lỏng và tạo thành bao tinh. 35

    3.3.3.5. Một số dạng giản đồ đặc biệt 35

    CHƯƠNG 4. 37

    BIẾN DẠNG DẺO VÀ CƠ TÍNH CỦA KIM LOẠI. 37

    4.1. Các khái niệm.. 37

    4.1.1. Biến dạng đàn hồi, biến dạng dẻo và phá hủy. 37

    4.1.1.1. Biểu đồ kéo kim loại 37

    4.1.1.2. Bản chất của biến dạng đàn hồi. Định luật Hooke. 38

    4.1.1.3. Biến dạng dẻo. 38

    4.1.2. Biến dạng dẻo đơn tinh thể. 38

    4.1.2.1. Dạng ứng suất gây biến dạng dẻo. 38

    4.1.2.2. Độ bền lý thuyết và thực tế của kim loại 39

    4.1.3. Các cơ chế biến dạng dẻo. 41

    4.1.3.1. Trượt 41

    4.1.3.2. Đối tinh. 42

    4.1.3.3. Vai trò của mặt trượt và phương trượt trong biến dạng dẻo. 43

    4.1.4. Sự thay đổi tổ chức và cấu trúc tinh thể sau biến dạng dẻo, các phương pháp nâng cao độ bền vật liệu. 43

    4.1.4.1. Sự thay đổi tổ chức và cấu trúc của tinh thể. 44

    4.1.4.2. Các phương pháp nâng cao độ bền vật liệu. 44

    4.1.5. Các yếu tố hãm lệch trong tinh thể. 45

    4.1.5.1. Tương tác giữa các lệch. 45

    4.1.5.2. Các nguyên tử tạp chất 45

    4.1.5.3. Biên giới hạt và biên giới siêu hạt 46

    4.1.5.4. Pha thứ hai phân tán. 46

    4.1.6. Đặc điểm biến dạng dẻo đa tinh thể. 46

    4.1.7. Nung kim loại sau biến dạng dẻo. 47

    4.1.7.1. Mục đích. 47

    4.1.7.2. Các giai đoạn xảy ra khi nung kim loại qua biến dạng dẻo. 47

    4.2. Các đặc trưng cơ tính của vật liệu. 49

    4.2.1. Độ bền tĩnh và độ dẻo. 49

    4.2.1.1. Nhóm đặc trưng cho độ bền. 49

    4.2.1.2. Nhóm đặc trưng cho độ dẻo. 50

    4.2.2. Chỉ tiêu cơ tính dưới tác dụng của tải trọng tĩnh mà không phá hủy mẫu. 50

    4.2.2.1. Độ cứng Brinell (HB) 50

    4.2.2.2. Độ cứng Rocoel (HR) 50

    4.2.2.3. Độ cứng Vicken (HV) 51

    4.2.2.4. Độ cứng tế vi (Hm) 51

    4.2.3. Chỉ tiêu cơ tính dưới tác dụng của tải trọng động. 51

    4.2.4. Độ bền của vật liệu dưới tác dụng của tải trọng chu kỳ (giới hạn bền mỏi) 51

    CHƯƠNG 5. 53

    GIẢN ĐỒ TRẠNG THÁI SẮT - CÁCBON.. 53

    5.1. Các bon và sắt 53

    5.1.1. Các bon. 53

    5.1.2. Sắt 53

    5.1.2.1. Cơ tính. 53

    5.1.2.2. Tính thù hình. 53

    5.2. Giản đồ trạng thái Fe - C.. 54

    5.2.1. Giản đồ trạng thái 54

    5.2.2. Các tổ chức của hợp kim Fe - C.. 54

    5.2.2.1. Các tổ chức một pha. 54

    5.2.2.2. Các tổ chức 2 pha. 55

    5.2.3. Quá trình kết tinh của hợp kim Fe-C.. 56

    5.2.3.1. Phần phía trên đường đặc AHJECF. 56

    5.2.3.2. Phần phía dưới đường đặc AHJECF. 56

    5.3. Phân loại hợp kim Fe - C theo giản đồ trạng thái 56

    5.3.1. Thép. 56

    5.3.2. Gang. 58

    5.3.3. Đặc điểm cơ tính của thép và gang theo giản đồ trạng thái 59

    5.3.3.1. Thép. 59

    5.3.3.2. Gang. 59

    5.4. Các nhiệt độ tới hạn hợp kim Fe - C theo giản đồ trạng thái 59

    5.4.1. Nhiệt độ phản ứng cùng tinh (T = 11470C) 59

    5.4.2. Nhiệt độ phản ứng cùng tích (T = 7270C) 59

    5.4.3. Nhiệt độ đường giới hạn hòa tan của Ferit (a) trong Auxtenit (g) là đường A3  60

    5.4.4. Nhiệt độ đường giới hạn hòa tan của Xementit (Xe) vào Auxtenit (g) là đường Acm   60

    6.1. Khái niệm về nhiệt luyện. 62

    6.1.1. Định nghĩa. 62

    6.1.2. Các đặc điểm của nhiệt luyện. 62

    6.1.3. Các yếu tố đặc trưng cho quá trình nhiệt luyện. 62

    6.1.4. Phân loại nhiệt luyện. 62

    6.2. Các chuyển biến xảy ra khi nung thép. 62

    6.2.1. Mô tả thí nghiệm.. 62

    6.2.2. Nhiệt độ chuyển biến Peclit thành Auxtenit 63

    6.2.2.1. Đường cong động học chuyển biến khi nung nóng thép cùng tích. 63

    6.2.2.2. Đường cong động học chuyển biến khi nung nóng thép và sau cùng tích. 65

    6.2.3. Cơ chế hình thành g khi nung. 65

    6.2.4. Độ hạt của g và biểu diễn độ hạt trên giản đồ trạng thái 66

    6.3. Các chuyển biến xảy ra khi làm nguội thép. 67

    6.3.1. Các chuyển biến xảy ra khi làm nguội đẳng nhiệt Auxtenit 67

    6.3.1.1. Mô tả thí nghiệm: Làm thí nghiệm với thép cùng tích (0,8%C) 67

    6.3.1.2. Ảnh hưởng của độ quá nguội đến chuyển biến. 68

    6.3.1.3. Giản đồ chuyển biến đẳng nhiệt của g quá nguội 68

    6.3.1.4. Các sản phẩm của sự phân hoá đẳng nhiệt của Auxtenit quá nguội 68

    6.3.1.5 Giản đồ chuyển biến đẳng nhiệt g quá nguội của thép trước cùng tích và sau cùng tích  69

    6.3.2. Chuyển biến g ® P khi làm nguội liên tục. 69

    6.3.3. Chuyển biến của g khi làm nguội nhanh - chuyển biến Mactenxit 70

    6.3.3.1. Khái niệm: 70

    6.3.3.2. Tốc độ nguội tới hạn để xảy ra chuyển biến Mactenxit 71

    6.3.3.3. Đặc điểm của chuyển biến Mactenxit 71

    6.3.3.4. Cơ tính của M... 73

    6.4. CHUYỂN BIẾN KHI NUNG THÉP ĐÃ TÔI. 74

    6.4.2. Các chuyển biến xảy ra khi ram.. 75

    6.4.2.1. Giai đoạn I (T0 < 2000C) 75

    6.4.2.2. Giai đoạn II (2000C < T0 < 2600C) 76

    6.4.2.3. Giai đoạn III (2600C < T0< 4000C) 76

    6.4.2.4. Giai đoạn IV (T0 > 4000C) 76

    6.4.3. Cơ tính của thép sau nhiệt luyện tôi và ram.. 77

    6.4.3.1. Giữa Mtôi và Mram: 77

    6.4.3.2. Giữa Ttôi và Tram: 77

    6.4.3.3. Giữa Xtôi và Xram: 77

    CHƯƠNG 7: 78

    CÁC PHƯƠNG PHÁP NHIỆT LUYỆN THÉP. 78

    7.1. Ủ VÀ THƯỜNG HÓA THÉP. 78

    7.1.1. Ủ thép. 78

    7.1.1.1. Định nghĩa và mục đích của ủ thép. 78

    7.1.1.2. Phân loại 79

    7.1.2. Thường hóa thép. 81

    7.1.2.1. Định nghĩa. 82

    7.1.2.2. Đặc điểm của thường hoá thép. 82

    7.1.2.3. Mục đích áp dụng của thường hoá. 82

    7.1.2.4. Nhiệt độ ủ và thường hoá thép theo giản đồ trạng thái 83

    7.2. TÔI THÉP. 83

    7.2.1. Định nghĩa. 83

    7.2.2. Đặc điểm.. 83

    7.2.3. Mục đích của tôi 83

    7.2.4. Tốc độ tôi tới hạn và độ thấm tôi 84

    7.2.4.1. Tốc độ tôi tới hạn. 84

    7.2.4.2. Độ thấm tôi 84

    7.2.5. Xác định nhiệt độ tôi 85

    7.2.6. Các phương pháp tôi 86

    7.2.6.1. Yêu cầu đối với môi trường làm nguội 86

    7.2.6.2. Các phương pháp tôi thông thường. 86

    7.2.6.3. Các phương pháp tôi đặc biệt 88

    7.2.6.4. Một số môi trường nguội hay dùng. 90

    7.3. RAM THÉP. 90

    7.3.1. Định nghĩa và mục đích. 90

    73.1.1 Định nghĩa: 90

    7.3.1.2 Mục đích: 90

    7.3.2. Các phương pháp ram.. 91

    7.3.2.1. Ram thấp. 91

    7.3.2.2. Ram trung bình. 91

    7.3.2.3. Ram cao. 91

    7.3.3. Các khuyết tật xảy ra khi nhiệt luyện. 91

    7.3.3.1. Biến dạng, nứt 91

    7.3.3.2. Oxi hóa và thoát cacbon. 92

    7.3.3.3. Độ cứng không đạt 93

    7.3.3.4. Tính dòn cao. 94

    7.3.3.5. Dòn ram.. 94

    7.4. SƠ LƯỢC VỀ CÁC THIẾT BỊ NHIỆT LUYỆN.. 94

    7.4.1. Đặc điểm của lò nhiệt luyện. 94

    7.4.1.1. Yêu cầu đối với lò nhiệt luyện. 94

    7.4.1.2. Phân loại lò nhiệt luyện. 95

    7.4.2. Các nhóm thiết bị nhiệt luyện. 95

    7.4.2.1. Nhóm thiết bị nung (gia nhiệt) 95

    7.4.2.2. Nung nóng thép và xác định thời gian nung nóng để tôi 97

    7.4.2.3. Nhóm thiết bị làm nguội và thiết bị kiểm tra. 98

    CHƯƠNG 8: HÓA BỀN BỀ MẶT THÉP. 99

    8.1. BỀ MẶT CHI TIẾT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP HÓA BỀN BỀ MẶT.. 99

    8.1.1. Bề mặt chi tiết và các yêu cầu làm việc của bề mặt 99

    8.1.2. Các phương pháp hóa bền bề mặt thép. 99

    8.2. PHƯƠNG PHÁP CƠ HỌC.. 99

    8.2.1. Nguyên lý. 99

    8.2.2. Các phương pháp cơ học. 99

    8.2.2.1. Phun bi 99

    8.2.2.2. Lăn ép. 100

    8.2.2.3. Đập. 100

    8.3. PHƯƠNG PHÁP NHIỆT LUYỆN BỀ MẶT.. 100

    8.3.1. Định nghĩa. 100

    8.3.2. Nguyên lý. 100

    8.3.3. Các phương pháp tôi bề mặt 100

    8.3.3.1. Phương pháp tôi bề mặt bằng dòng điện có tần số cao. 100

    8.3.3.2. Tôi bề mặt bằng nung nóng bởi ngọn lửa C2H2 + O2 102

    8.4. Phương pháp hoá nhiệt luyện. 103

    8.4.1. Khái niệm.. 103

    8.4.2. Mục đích. 103

    8.4.3. Cơ sở lý thuyết của quá trình hoá nhiệt luyện. 103

    8.4.4. Các cơ chế khuếch tán. 104

    8.4.5. Công nghệ thấm cacbon. 105

    8.4.5.1. Định nghĩa. 105

    8.4.5.2. Mục đích và yêu cầu đối với lớp thấm, chọn loại thép để thấm.. 105

    8.4.5.3. Chọn nhiệt độ và thời gian thấm.. 105

    8.4.6. Các phương pháp thấm cacbon. 106

    8.4.6.1. Thấm cacbon thể rắn. 107

    8.4.6.2. Thấm cacbon thể lỏng. 107

    8.4.6.3. Thấm cacbon thể khí 108

    8.4.6.4. Nhiệt luyện sau thấm cacbon. 108

    8.4.6.5. Tổ chức và cơ tính của chi tiết thấm cacbon. 109

    8.4.7. Thấm Nitơ. 110

    8.4.7.1. Định nghĩa và mục đích. 110

    8.4.7.2. Cấu tạo của lớp thấm nitơ. 110

    8.4.7.3. Công nghệ thấm nitơ. 110

    8.4.7.4. Đặc điểm của lớp thấm nitơ. 111

    8.4.8. Thấm Cacbon - Nitơ. 111

    8.4.8.1. Định nghĩa và mục đích. 111

    8.4.8.2. Các phương pháp thấm.. 112

    9.1. Giới thiệu chung về gang. 113

    9.1.1. Định nghĩa. 113

    9.1.2. Phân loại 113

    9.1.3. Cơ tính và tính công nghệ. 113

    9.1.4. Công dụng. 113

    9.1.5. Sự hình thành graphit trong gang. 114

    9.1.5.1. Graphit 114

    9.1.5.2. Sự tạo thành graphit trong gang. 114

    9.1.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành Graphit khi kết tinh. 115

    9.2. Tổ chức tế vi và cơ tính các loại gang. 116

    9.2.1. Tổ chức tế vi và cơ tính của gang xám.. 116

    9.2.1.1. Tổ chức tế vi 116

    9.2.1.2. Cơ tính. 117

    9.2.2. Tổ chức tế vi và cơ tính của gang dẻo. 118

    9.2.2.1. Thành phần hoá học. 118

    9.2.2.2. Quy trình ủ gang trắng thành gang dẻo. 118

    9.2.2.3. Cơ tính của gang dẻo. 119

    9.2.2.4. Ký hiệu. 119

    9.2.3. Gang cầu. 119

    9.2.3.1. Tổ chức tế vi 119

    9.2.3.2. Thành phần hoá học và cách sản xuất vật đúc gang cầu. 119

    9.2.3.3. Cơ tính gang cầu. 120

    9.2.3.4. Ký hiệu. 120

    9.3. Nhiệt luyện gang. 120

    9.3.1. Nhiệt luyện gang xám.. 120

    9.3.1.1. ủ khử ứng suất bên trong. 120

    9.3.1.2. ủ làm mất lớp vỏ biến trắng. 120

    9.3.1.3. ủ để thay đổi nền kim loại 120

    9.3.1.4. Tôi và ram.. 121

    9.3.1.5. Hoá bền bề mặt 121

    9.3.2. Nhiệt luyện gang cầu. 122

    9.3.2.1. ủ. 122

    9.3.2.2. Tôi và ram.. 122

    9.3.2.3. Hoá bền bề mặt 122

     


    Chương 1

    TỔNG QUAN

     

    1.1        KHÁI NIỆM VỀ VẬT LIỆU.

    1.1.1            Khái niệm chung

         Vật liệu theo cách hiểu phổ biến nhất là những vật rắn mà con người dùng để chế tạo ra các máy móc, thiết bị, dụng cụ, v.v… trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, trong xây dựng các công trình, nhà cửa hay thay thế các bộ phận cơ thể con người hoặc để thể hiện các ý đồ nghệ thuật, v.v.

    Vật liệu học là một khoa học ứng dụng về quan hệ giữa thành phần, cấu tạo và tính chất của vật liệu, nhằm giải quyết những vấn đề kỹ thuật quan trọng nhất, liên quan đến việc tiết kiệm vật liệu, giảm khối lượng thiết bị máy móc và dụng cụ, nâng cao độ chính xác, độ tin cậy và khả năng làm việc của các chi tiết máy và dụng cụ.

    Cơ sở lý thuyết của vật liệu học là các phần tương ứng của vật lý và hóa học nhưng về cơ bản thì khoa học về vật liệu được phát triển bằng con đường thực nghiệm. Việc đưa ra những phương pháp thực nghiệm mới để nghiên cứu cấu tạo (cấu trúc) và các tính chất cơ, lý của vật liệu sẽ tạo điều kiện để môn vật liệu học tiếp tục phát triển.

    Nghiên cứu các tính chất vật lý như mật độ, độ dẫn điện, độ dẫn nhiệt, v.v… hay cơ tính như độ bền, độ dẻo, độ cứng, môđun đàn hồi, ... hoặc tính công nghệ như độ chảy loãng, khả năng gia công cắt gọt, ... và các tính năng làm việc như tính chống ăn mòn, tính chống mài mòn và mỏi, tính dòn lạnh, tính bền nhiệt, ... của vật liệu sẽ cho phép xác định lĩnh vực ứng dụng hợp lý các vật liệu khác nhau, tuy nhiên có tính đến các đòi hỏi của tính kinh tế.

    Tóm lại, vật liệu học là môn khoa học phục vụ cho sự phát triển và sử dụng vật liệu, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp công nghệ nhằm cải thiện tính chất và sử dụng thích hợp ngày một tốt hơn. Nó liên quan trực tiếp đến tất cả những người làm việc trong lĩnh vực chế tạo, gia công và sử dụng vật liệu.

    1.1.2                 Phân loại vật liệu

    Dựa theo các tính chất đặc trưng, người ta phân biệt ba nhóm vật liệu chính là vật liệu kim loại, vật liệu vô cơ - ceramíc và vật liệu hữu cơ - polyme. Tuy nhiên những năm gần đây đã xuất hiện một nhóm vật liệu quan trọng thứ tư đó là vật liệu kết hợp - vật liệu compozít.

    1.1.2.1           Vật liệu kim loại.

    Thành phần chủ yếu là hợp kim gồm:  KL+ á kim hoặc KL khác

    Là những vật thể dẫn nhiệt, dẫn điện tốt, phản xạ ánh sáng với màu sắc đặc trưng, không cho ánh sáng đi qua, dễ biến dạng dẻo (cán, kéo, rèn, ép)

      Có độ bền cơ học, nhưng kém bền vững hóa học, trừ nhôm (Al), các kim loại thông dụng khác như: Fe, Cu, ... đều khá nặng, nhiệt độ chảy biến đổi trong phạm vi từ thấp đến cao nên đáp ứng được yêu cầu đa dạng của kỹ thuật.

    Ðặc điểm cấu trúc của vật liệu kim loại là sự sắp xếp trật tự của các nguyên tử để tạo thành mạng tinh thể với độ xếp chặt cao và liên kết với nhau nhờ khí điện tử tự do.

    Trong mạng tinh thể luôn luôn tồn tại các khuyết tật và trong một số điều kiện chúng có thể chuyển hoàn toàn sang trạng thái không trật tự thuộc dạng vô định hình. Vật liệu kim loại được chia làm hai nhóm lớn:

    -              Kim loại và hợp kim sắt là những vật liệu mà trong thành phần chủ yếu có nguyên tố sắt. Thuộc nhóm này chủ yếu là thép và gang.

    -              Kim loại và hợp kim không sắt là loại vật liệu mà trong thành phần của chúng không chứa hoặc chứa rất ít sắt. Thí dụ như đồng, nhôm, kẽm, niken và các loại hợp kim của chúng. Nhóm này còn có tên gọi là kim loại và hợp kim màu.

    1.1.2.2  Vật liệu vô cơ – ceramíc.

      Là hợp chất giữa kim loại, silic với á kim: thành phần cấu tạo của vật liệu vô cơ - ceramíc chủ yếu là các hợp chất giữa kim loại như Mg, Al, Si, Ti, ... và các phi kim dưới dạng các ôxýt, cácbít, hay nitrít, ... với liên kết bền vững kiểu ion hoặc kiểu đồng hóa trị có sắp xếp trật tự để tạo thành mạng tinh thể hoặc có sắp xếp không trật tự như trạng thái thủy tinh hay vô định hình.

    Tên gọi ceramíc được bắt nguồn từ tiếng Hylạp "keramikos" có nghĩa là "vật nung" nên khi chế tạo vật liệu loại này thường phải qua nung nóng, thiêu kết.

    Các vật liệu vô cơ - ceramíc truyền thống có thể kể đến là: gốm và vật liệu chịu lửa, thủy tinh & gốm thuỷ tinh, ximăng & bêtông.

    Ngày nay, nhiều loại vật liệu vô cơ - ceramíc mới tìm thấy có những tính năng rất quí như nhẹ, chịu nhiệt tốt, rất bền vững hóa học và có tính chống mài mòn tốt được ứng dụng ngày càng nhiều trong công nghiệp điện, điện tử và hàng không vũ trụ.

    1.1.2.3 Vật liệu hữu cơ – polyme.

      Có nguồn gốc hữu cơ, thành phần hóa học chủ yếu là C, H và các á kim, có cấu trúc phân tử lớn.

      - Nhẹ, dẫn nhiệt, dẫn điện kém.

      - Nói chung dễ uốn dẻo, đặc biệt khi nâng cao nhiệt độ nên bền nhiệt thấp.

      - Bền vững hóa học ở nhiệt độ thường và trong khí quyển.

    Vật liệu hữu cơ – polyme bao gồm các chất hữu cơ chứa các bon có cấu trúc đa phân tử với hai nguyên tố thành phần chủ yếu là các bon và hydrô có thể chứa thêm ôxy, clo, nitơ, ... liên kết với nhau trong các mạch phân tử kích thước lớn sắp xếp trật tự được gọi trạng thái tinh thể hoặc không trật tự – trạng thái vô định hình. Tuy nhiên chúng có thể có cấu trúc hỗn hợp vừa tinh thể vừa vô định hình.

    Ngoài các vật liệu hữu cơ tự nhiên như cao su, xenlulo v.v ra phần lớn vật liệu hữu cơ được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp cũng như trong cuộc sống là các polyme tổng hợp, chúng là sản phẩm của quá trình trùng hợp (polyme hóa) các phân tử đơn (monome) và do đó tùy theo nguồn gốc chất trùng hợp, chúng có các tên gọi khác nhau như polyetylen (PE), polypropylen (PP) hay polystyren (PS), v.v.

    1.1.2.4  Vật liệu kết hợp – compozit.

      Là loại vật liệu được kết hợp giữa hai hay nhiều loại vật liệu khác nhau với tính chất đặc trưng khác hẳn nhau, mang hầu như các đặc tính tốt của các vật liệu thành phần. Ví dụ: bê tông cốt thép là sự kết hợp giữa thép (vật liệu kim loại) có tính chịu tải trọng kéo tốt và bê tông (là vật liệu vô cơ) có tính chịu nén tốt, vì thế bê tông cốt thép là loại vật liệu kết cấu vừa chịu kéo và vừa chịu nén tốt.

     

    Sự kết hợp giữa kim loại với polyme, giữa polyme với ceramíc, giữa ceramíc với kim loại, v.v…  là cơ sở để chế tạo các loại vật liệu kết hợp-compozít với những tính năng khác nhau phục vụ tốt trong các ngành công nghiệp và sản xuất cơ khí nói chung. Một số vật liệu kết hợp - compozít được ứng dụng trong ngành hàng không rất có hiệu quả như sợi thủy tinh độ bền cao và sợi các bon.

      Ngoài bốn nhóm vật liệu chính vừa được nêu trên còn có các nhóm vật liệu khác có tính năng và thành phần rất riêng biệt như:

      - Bán dẫn, siêu dẫn nhiệt độ thấp, siêu dẫn nhiệt độ cao, chúng nằm trung gian giữa kim loại và ceramic (trong đó hai nhóm đầu gần với kim loại hơn, nhóm sau cùng gần với ceramic hơn).

      - Silicon nằm trung gian giữa vật liệu vô cơ với hữu cơ, song gần với vật liệu hữu cơ hơn.

    1.2.  LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU.

    Lịch sử phát triển khoa học vật liệu gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, có thể chia ra làm 3 giai đoạn lớn sau:

    1.2.1.  Giai đoạn tiền sử của loài người.

    Từ hàng ngàn, hàng vạn năm trước công nguyên con người nguyên thủy đã biết sử dụng công cụ lao động để duy trì và phát triển cộng đồng, ngày đó họ đã biết sử dụng các vật liệu có sẵn trong tự nhiên như :

    -              Vật liệu vô cơ là đất sét, đá, và các loại khoáng vật v.v.

    -              Vật liệu hữu cơ như da, sợi thực vật, gỗ, tre v.v.

    -              Vật liệu kim loại như vàng, bạc, đồng tự nhiên và sắt thiên thạch v.v.

    Trong giai đoạn này, các vật liệu được sử dụng đa phần ở dạng nguyên thủy, không qua chế biến. Các vật dụng được chế tạo chủ yếu bằng các cắt, mài, đập hay nghiền v.v. Tại thời kỳ này riêng người Ai Cập cổ, người Babylon, người La Mã và người Trung Quốc đã biết chế tạo ra gạch để xây cất bằng cách phơi khô đất sét ngoài nắng.

    1.2.2. Giai đoạn chế tạo và sử dụng vật liệu theo kinh nghiệm.

    Phải trải qua một thời gian rất lâu, nghĩa là sau hàng nghìn năm để tích lũy các quan sát ngẫu nhiên và các kinh nghiệm, thực hiện các thí nghiệm một cách rời rạc và mò mẫm, con người thời trước Công nguyên cũng đã tạo ra được nhiều sự kiện quan trọng về lĩnh vực vật liệu. Có thể kể ra đây vài ví dụ:

    Trước Công nguyên khoảng 6.000 năm, người ta đã biết luyện đồng từ quặng để chế tạo ra những công cụ lao động và vũ khí. Những cục xỉ đồng với tuổi 8.500 năm, mà người ta phát hiện được ở cao nguyên Anotolia Thổ Nhĩ Kỳ đã nói lên sự xuất hiện rất sớm nghề luyện đồng từ quặng trên trái đất của chúng ta.

    Sắt thép cũng xuất hiện khá sớm. Vào khoảng thế kỷ 15 trước Công nguyên người ta đã biết sử dụng công cụ bằng thép và sau đó khoảng 4 thế kỷ, người Hy Lạp và La Mã đã biết sử dụng phương pháp nhiệt luyện tôi thép để làm tăng độ cứng cho thép. Kỹ thuật này đạt được đỉnh cao vào thời trung cổ với các thanh kiếm nổi tiếng như Damascus (Syrie) cho đến ngày nay vẫn còn là một bí mật về công nghệ. Các nhà khảo cổ học khi khai quật ở Ninevia - kinh đô của đồ sứ cổ Assiria trong cung điện vua Sargon đệ nhị thế kỷ thứ VIII trước Công nguyên đã phát hiện ra một kho chứa khoảng 200 tấn sản phẩm bằng sắt như mũ sắt, lưỡi cưa và các công cụ rèn v.v.

    Một kỳ tích về công nghệ luyện kim của nhân loại cổ xưa đã được tìm thấy như cây cột trụ bằng sắt nổi tiếng của Ấn độ gần như nguyên chất (nó chứa tới 99,72% sắt) nặng tới 6,5 tấn, cao hơn 7m được xây dựng từ năm 415 để tưởng niệm vị vua Chanđragupta đệ nhị. Những lò luyện sắt đầu tiên có ở Trung Quốc và Ai cập từng xuất hiện từ hơn 3.000 năm trước Công nguyên.

    Vào cuối thế kỷ thứ XVIII kỹ thuật chế tạo thép với qui mô lớn đã xuất hiện, mà nhờ đó con người đã sử dụng phổ biến để chế tạo ra các máy hơi nước, tầu thủy, xây dựng cầu cống, nhà cửa và đường sắt v.v. Một công trình bằng thép đồ sộ phải kể đến tháp Effen tại thủ đô Pari của Pháp. Tháp này nặng 7.341 tấn và cao tới 320 m được xây dựng xong năm 1889 không những là niềm tự hào và là biều tượng văn minh của nước Pháp mà còn là một kỳ quan của thế giới.

    Ngoài sự phát triển mạnh của những vật liệu kim loại đã nêu trên, vật liệu vô cơ cũng đã có những bước tiến rất sớm. Từ thế kỷ XV trước Công nguyên, ở Ai Cập, Babylon và La Mã người ta đã biết sử dụng hỗn hợp đá nghiền với vôi tôi rồi tới đầu thế kỷ XIX xi măng portlan đã xuất hiện ở Anh, Mỹ, Nga và sau đó kỹ thuật đúc bê tông cốt thép sử dụng trong xây dựng đã xuất hiện ở Mỹ vào năm 1875 và ngày nay loại vật liệu này ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng cầu đường, nhà cửa v.v.

    1.2.3. Giai đoạn chế tạo và sử dụng vật liêu theo kiến thức khoa học.

    Người ta đã đi sâu tìm hiểu bản chất của vật liệu, tìm hiểu nguyên nhân của sự hình thành các tính chất khác nhau của chúng. Chính nhờ những kiến thức khoa học đó mà con người đã đánh giá được định tính chiều hướng phát triển của vật liệu và định hướng các công nghệ chế tạo vật liệu với những tính chất mong muốn.

    Có thể kể ra đây một vài bước tiến nổi bật về công nghệ vật liệu:

    -           Năm 1930 công nghệ chế tạo hợp kim nhôm cứng có tên Ðuara (duaralumin) xuất hiện nhờ quá trình hóa già biến cứng.

    -  Năm 1940 công nghệ chế tạo chất dẻo polyme ra đời nhờ quá trình trùng hợp.

    -  Năm 1955 công nghệ chế tạo bán dẫn bằng kỹ thuật tinh luyện và tạo lớp chuyển tiếp.

    -  Năm 1965 một loạt vật liệu mới ra đời như thép xây dựng vi hợp kim hóa, thép kết cấu độ bền cao và đặc biệt là sự xuất hiện vật liệu kết hợp compozít.

    -  Năm 1975 chế tạo vật liệu nhớ hình.

    -  Năm 1980 chế tạo thành công kim loại thủy tinh v.v…

      Bất kỳ một sáng tạo nào của con người cũng đều phải sử dụng vật liệu, đều phải khai thác các đặc tính khác nhau của vật liệu

    Các sự kiện nổi bật:

    • Cột thép New Dehli, 6,5 tấn khoảng TK 5 SCN, không gỉ?
    • Luyện thép ở quy mô CN  TK 19 tạo ra tháp Eiffel cao 320m, nặng 7341 tấn
    • Bê tông cốt thép, năm 1875 (Hoa kỳ), gốm Việt nam Trung hoa rất lâu đời
    • Sử dụng vi tính máy tính  công nghệ cao với nền kinh tế tri thức ?
    • Cơ khí (vật liệu kim loại)  máy tính cơ học (vài chục phép tính/phút)
    • Đèn điện tử  máy tính điện tử MИHCK22 (vài trăm phép tính/phút)
    • Bán dẫn (vi xử lý) (90 - 130)MHz  200MHz (P)  (330 - 400)MHz (PII)  (400 -700)MHz (PIII), PIV   1GHz,.. ?
    • Máy hút bụi: gỗ (hộp) kim loại (trụ)  polyme (cầu) công suất gấp 10, kích thước 1/3.

     Xu hướng phát triển của vật liệu :

      Ôtô (Mỹ) 1978: thép (60)%, polyme (10-20)%, HK Al (3-5)%, VL khác còn lại

         1993: thép (50-60)%, polyme (10-20)%, HK Al (5-10)%, VL khác còn lại.

    Polyme, compozit xu hướng tăng, kim loại giảm nhưng vẫn quan trọng nhất.


    Tuy nhiên còn có rất nhiều loại vật liệu hiện còn đang trong quá trình nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm có nhiều triển vọng ứng dụng rộng rãi vào thực tế trong tương lai.

     

    1.3.        NHỮNG TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA VẬT LIỆU. 

    1.2.1  Ba yêu cầu cơ bản đối với vật liệu

    Vật liệu nói chung và vật liệu dùng trong cơ khí nói riêng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp để chế tạo các chi tiết máy, các dụng cụ, các kết cấu công trình và tạo nên các sản phẩm cho cuộc sống v.v.

    Tuy nhiên khi chế tạo và sử dụng, chúng ta cần phải dựa vào các yêu cầu kỹ thuật để lựa chọn vật liệu thích hợp, bảo đảm chất lượng và tính kinh tế của sản phẩm.

    Ba yêu cầu cơ bản đối với vật liệu như sau:

    • Thứ nhất là yêu cầu về tính sử dụng.

    Ðể bảo đảm một sản phẩm cơ khí có thể sử dụng được (tức làm việc được trong thực tế) thì vật liệu chế tạo ra nó phải có cơ tính, lý tính, hóa tính v.v sao cho sản phẩm sử dụng được bền lâu với độ tin cậy trong thời gian dự kiến.

    • Thứ hai là tính công nghệ của vật liệu.

    Tính công nghệ của vật liệu được hiểu là khả năng có thể gia công vật liệu bằng các phương pháp khác nhau như đúc, hàn, rèn, nhiệt luyện v.v để tạo ra sản phẩm có chất lượng phù hợp với yêu cầu sử dụng.

    • Thứ ba là tính kinh tế.

    Tính kinh tế là yêu cầu tất yếu của sản phẩm, nó đòi hỏi vật liệu chế tạo ra nó phải cho giá thành thấp nhất trong khi các yêu cầu về công nghệ và sử dụng được thỏa mãn.

    1.2.2  Những tính chất cơ bản của vật liệu

    Trong khuôn khổ của môn học, cuốn sách này chỉ đề cập đến hai yêu cầu cơ bản ban đầu với những tính chất cơ học, tính chất vật lý, tính chất hóa học, tính công nghệ đồng thời sơ lược về độ tin cậy và tuổi thọ của vật liệu.

    1.2.2.1           Tính chất cơ học.

    Tính chất cơ học (hay còn được gọi là cơ tính) của vật liệu là những đặc trưng cơ học biểu thị khả năng của vật liệu chịu tác dụng của các loại tải trọng.

    Các đặc trưng quan trọng của cơ tính là độ bền, độ dẻo, độ cứng, độ dai va đập, độ bền mỏi và tính chống mài mòn.

    1. a.            Ðộ bền.

    Ðộ bền là khả năng cơ học của vật liệu chịu tác dụng của ngoại lực mà không bị phá hủyvà được ký hiệu bằng s­ (xích ma). Ðơn vị đo độ bền được tính bằng N/mm2, kN/m2, hay MPa.

    Nhóm các đặc trưng cho độ bền bao gồm:

    • Giới hạn đàn hồi sdh(còn được ký hiệu là Re).

    Giới hạn đàn hồi là ứng suất lớn nhất tác dụng lên mẫu đo mà sau khi bỏ nó đi mẫu không bị biến dạng dẻo hoặc chỉ bị biến dạng dẻo rất nhỏù (độ biến dạng dư vào khoảng 0,001 – 0,005% so với chiều dài ban đầu của mẫu).

    Giới hạn đàn hồi được tính theo công thức:

     ,      (N/mm2  hay MPa).                                                                

    Trong đó: F0 (mm2) là tiết diện ban đầu của mẫu.

                    Pp (N) là lực tác dụng.

    Trong giai đoạn đàn hồi, nếu là đàn hồi tuyến tính, quan hệ giữa ứng suất s và biến dạng e tuân theo định luật Hook, và nó có thể biểu diễn dưới dạng công thức đơn giản.

                    s = E. e,       (MPa).                

    Với E (N/m2) là mô đun đàn hồi khi kéo, nén.

    Người ta qui định gọi s0,002giới hạn đàn hồi qui ước.

    • Giới hạn chảy sc(còn được ký hiệu là R0,2).

    Giới hạn chảy là ứng suất tại đó vật liệu bị "chảy", tức tiếp tục bị biến dạng với ứng suất không đổi .

    ,      (N/mm2  hay MPa).                                                                   

    Với Pc (N) là lực tác dụng bắt đầu biến dạng dẻo.

           F0 (mm2) là tiết diện ban đầu của mẫu.

    Thực tế rất khó xác định giá trị Pc ứng với lúc vật liệu bắt đầu chảy, cho nên khi vật liệu có tính dẻo kém, không có thềm chảy rõ, người ta thường qui ước tải trọng ứng với khi mẫu bị biến dạng 0,2% là tải trọng chảy, vì thế giá trị  được gọi là giới hạn chảy qui ước.

    • Giới hạn bềnsb (còn được ký hiệu là Rm).

    Giới hạn bền là ứng suất ứng với tải trọng tác dụng lớn nhất Pb hay Pmax làm cho thanh vật liệu bị đứt. Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 197-85 giới hạn bền còn được gọi là giá trị độ bền tức thời.

    Giới hạn bền được tính theo công thức:

     ,    (N/mm2  hay MPa).                                                                      

    Với F0 (mm2) là tiết diện ban đầu của mẫu.

           Pb (N) là lực tác dụng lớn nhất.

    Trong hệ SI giới hạn bền được đo bằng N/mm2. Giới hạn bền càng lớn, khả năng chịu tải mà không gây phá hủy của kết cấu càng lớn.

    Tùy theo dạng khác nhau của ngoại lực mà ta có các độ bền như độ bền kéo sk, độ bền uốn su và độ bền nén sn v.v.

    1. b.            Ðộ dẻo:

    Ðộ dẻo là khả năng biến dạng của vật liệu khi chịu tác dụng của ngoại lực mà không bị phá hủy. Ðộ dẻo được xác định bằng độ giãn dài tương đối d (%) và độ thắt tỉ đối y (%).

    • Ðộ giãn dài tương đốid (%)

    Ðộ giãn dài tương đối là tỉ lệ tính theo phần trăm giữa lượng giãn dài tuyệt đối của mẫu sau khi đứt với chiều dài ban đầu.

    Ðộ giãn dài tương đối được tính theo công thức:

    ,    (%).                                                                                            

    Với: l0 (mm) và l1 (mm) là độ dài của mẫu trước và sau khi kéo.

    • Ðộ thắt tương đối hay độ thắt tỉ đốiy  (%).

    Ðộ thắt tỉ đối cũng là tỉ số tính theo phần trăm giữa độ thắt tuyệt đối của mẫu sau khi đứt với diện tích mặt cắt ngang ban đầu. Ðộ thắt tỉ đối được tính theo công thức:

    ,   (%).                                                                                              

    Trong đó DF = F0 – F1 với F0 và F1 là tiết điện của mẫu trước và sau khi kéo tính cùng đơn vị đo (mm2). Vật liệu có độ giãn dài tương đối và độ thắt tỉ đối càng lớn thì càng dẻo và ngược lại.

    Có nhiều phương pháp thử để xác định độ bền và độ dẻo của vật liệu nhưng thông dụng nhất là thử kéo.

    • Thử kéo

    Nội dung của phương pháp này là dùng máy kéo nén vạn năng (hình 1.2) để kéo mẫu thử được làm theo tiêu chuẩn đến khi mẫu bị đứt.

    Quá trình tăng tải sẽ gây ra biến dạng mẫu một lượng Dl.

    Mối quan hệ giữa lực P và lượng biến dạng tuyệt đối Dl hoặc ứng suất s và biến dạng tương đối e được ghi lại trên giản đồ kéo.

    Mẫu thử kéo được chọn theo những qui định riêng và có hình dạng, kích thước theo tiêu chuẩn.

    Thử kéo là phương pháp tác động từ từ lên mẫu một tải trọng kéo cho đến khi mẫu đứt rời.  Hình 1.2 giới thiệu một loại máy thử kéo, nén vạn năng.

    1. c.            

       

       
      Ðộ cứng

    Ðộ cứng là khả năng của vật liệu chống lại biến dạng dẻo cục bộ khi có ngoại lực tác dụng thông qua vật nén. Nếu cùng một giá trị lực nén, lõm biến dạng trên mẫu càng lớn, càng sâu thì độ cứng của mẫu đo càng kém. Ðo độ cứng là phương pháp thử đơn giản và nhanh chóng để xác định tính chất của vật liệu mà không cần phá hủy chi tiết.

     Ðộ cứng có thể đo bằng nhiều phương pháp khác nhau nhưng đều dùng tải trọng ấn viên bi bằng thép nhiệt luyện cứng hoặc mũi côn kim cương hoặc mũi chóp kim cương lên bề mặt của vật liệu cần thử, rồi xác định kích thước vết lõm in trên bề mặt vật liệu đo. Thường dùng các loại độ cứng Brinen (HB), độ cứng Rockwell (HRC, HRB và HRA), và độ cứng Vícke (HV).

    • Ðộ cứng Brinen

    Ðộ cứng Brinen được xác định bằng cách dùng tải trọng P để ấn viên bi bằng thép đã nhiệt luyện có đường kính D lên bề mặt vật liệu muốn thử (hình 1.3). Ðơn vị đo độ cứng Brinen HB là kG/mm2 hoặc đổi ra MPa.

    Tùy theo chiều dày của mẫu thử chúng ta chọn đường kính của viên bi là D = 10 mm, D = 5 mm hoặc D = 0,25 mm, đồng thời tùy thuộc vào tính chất của vật liệu chúng ta chọn tải trọng P cho thích hợp.

    -              Ðối với thép và gang thì P = 30D2.

    -              Ðối với đồng và hợp kim đồng P = 10D2.

    -              Ðối với nhôm, babít và hợp kim mềm khác P = 2,5D2.

     

     

     

     

     

     
       

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Thí dụ:

    Khi thử thép dùng bi có đường kính D = 10 mm ta chọn tải trọng P = 30D2 = 300 kG.

    Ðộ cứng Brinen được tính theo công thức:  .                                                

    Trong đó F là diện tích mặt cầu của vết lõm và được tính:

    ,     (mm2).                                                                     

    Và do đó                                                                        

    Với D (mm) là đường kính viên bi  và d (mm) là đường kính vết lõm.

    Ðộ cứng HB của vật liệu được kiểm tra không lớn hơn 450 (kG/mm2).

    •  Ðộ cứng Rockwell.

    Ðộ cứng Rockwell được xác định bằng cách dùng tải trọng P để ấn viên bi bằng thép đã nhiệt luyện có đường kính 1,587mm tương đương 1/16" (thang B) hoặc mũi côn bằng kim cương có góc ở đỉnh 1200 (thang A hoặc C) lên bề mặt vật liệu muốn thử (hình 1.4).

    Viên bi thép dùng để thử những vật liệu ít cứng, còn mũi côn kim cương dùng để thử các vật liệu có độ cứng cao như thép đã nhiệt luyện. Khi đo độ cứng Rockwell bao giờ tải trọng P cũng tác động hai lần:

    Lần đầutải trọng sơ bộ với P0 = 10 kG, chiều sâu vết lõm tính từ đây. Sau đến tải trọng chính P (tải trọng chính P phụ thuộc vào độ cứng của vật liệu theo bảng).

     

     

     

    Trong khi thử, số đo độ cứng được chỉ trực tiếp ngay bằng kim đồng hồ. Số đo độ cứng Rockwell được biểu thị bằng đơn vị qui ước (không có thứ nguyên). Có nhiều thang đo độ cứng Rockwell, nhưng trong thực tế dùng nhiều nhất là thang B (HRB), thang A (HRA) và thang C (HRC).

    Thang HRB dùng bi thép với P = 100 kG áp dụng cho các vật liệu mềm và cứng vừa như gang, thép sau khi ủ, hợp kim đồng nhôm. Thang HRC dùng mũi kim cương với P = 150 kG áp dụng cho các vật liệu có độ cứng trung bình và cao như gang, thép sau khi tôi và ram. Thang HRA dùng mũi kim cương với P = 60 kG áp dụng cho các vật liệu rất cứng như hợp kim cứng, lớp thấm xuyanua.

    • Ðộ cứng Vicke.

    Ðộ cứng Vicke là loại độ cứng có phương pháp đo tương tự như Brinen, nhưng có những điểm khác như:

    -          Mũi đâm làm bằng kim cương với hình tháp bốn mặt đều có góc ở đỉnh giữa hai mặt đối diện là 1360 (hình 1.5).

    -          Tải trọng tác dụng nhỏ từ 1 đến 100 kG, trong đó mức 30 kG với thời gian giữ tải trọng 10 đến 15 giây được coi là điều kiện tiêu chuẩn.

    -          Khi ấn mũi hình tháp, tỉ lệ giữa các đường chéo vết lõm nhận được khi thay đồi tải trọng luôn luôn không đổi nên cho phép tăng hay giảm tải trọng tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu.

     

    Ðộ cứng Vicke được dùng để đo độ cứng của các vật liệu từ rất mềm đến rất cứng với lớp cần đo rất mỏng có thể tới 0,04 đến 0,06mm của bề mặt sau khi thấm than, thấm nitơ và nhiệt luyện.

    Ðộ cứng Vicke được ký hiệu là HV đơn vị kG/mm2 và được xác định theo công thức:

    Trong đó: P (kG) là tải trọng. d (mm) là đường chéo của vết lõm.

    Lưu ý: Ðộ cứng ở điều kiện tiêu chuẩn chỉ cần viết vắn tắt bằng HV và số đo mà không cần ghi thứ nguyên. Thí dụ: HV300.

    Ðộ cứng ở điều kiện phi tiêu chuẩn thì phải ghi thêm các điều kiện. HV10/ 30300 được hiểu là độ cứng HV được đo bằng tải trọng 10 kG với thời gian giữ tải trọng 30 giây là 300 kG/mm2.

    Ðộ cứng Vicke được dùng cả trong độ cứng tế vi.

    1. d.            Ðộ dai va chạm.

    Có những chi tiết máy khi làm việc phải chịu các tải trọng tác dụng đột ngột (hay tải trọng va đập). Khả năng chịu đựng của vật liệu bởi các tải trọng đột ngột hay va đập đó mà không bị phá hủy được gọi là độ dai va đập (hay độ dai va chạm). Muốn thử va đập cần phải có mẫu thử được lựa chọn theo những qui định riêng như ngang hay dọc thớ, vị trí nào trên sản phẩm và có hình dạng kích thước theo tiêu chuẩn.

    Nhìn chung các nước đều qui định mẫu thử là thanh có tiết diện hình vuông 10 x 10 (mm) và có chiều dài 55 mm hoặc 75 mm. Chúng khác nhau chủ yếu ở hình dạng và kích thước của vết khía trên mẫu, nơi tập trung ứng suất để phá hủy dòn.

    Hiện nay, người ta sử dụng phổ biến hai phương pháp thử va đập và kèm theo đó là hai dạng mẩu thử:

    -                 Loại Charpy (có chiều dài 55 mm).

    -                 Loại Izod (có chiều dài 75 mm).

    TCVN 312 - 69 qui định một mẫu chính và bốn mẫu phụ. Sơ đồ thử va đập được mô tả trên hình 1.6.

     
     

    Búa với khối lượng P được thả rơi tự do từ độ cao h, đập vào mẫu rồi làm vỡ nó, vì thế chỉ trở về tới độ cao h' < h. Năng lượng va đập dùng để phá hủy mẫu được ký hiệu là AK và được xác định theo công thức:

    AK = P.h - P.h' = P.(h - h').                                                                                          

    Năng lượng (phá hủy do) va đập AK được tính theo đơn vị công, trước đây theo kG.m, theo hệ quốc tế SI được đo bằng Jun (J) với 1J = 1N.m.

    Trong các qui định của TCVN và một số nước độ dai va đập được ký hiệu là ak. Nó là công cần thiết để phá hủy một đơn vị diện tích, mặt cắt ngang của mẫu ở chỗ có rãnh và được xác định theo công thức:

     với đơn vị đo là J/mm2 hay kJ/m2.                                                                                

    Trong đó A (J hay kJ) lànăng lượng va đập.

          F (mm2) là diện tích mặt cắt ngang của mẫu ở chỗ có rãnh.

    1. e.            Ðộ bền mỏi.

    Khi chi tiết máy làm việc trong điều kiện tải trọng biến đổi theo thời gian, có qui luật và được lặp đi lặp lại theo chu kỳ nhiều lần thường xảy ra phá hủy với ứng suất thấp hơn giới hạn bền kéo tĩnh. Hiện tượng này được gọi là hiện tượng mỏi.  Nguyên nhân của mỏi là do có sự tích lũy dần các khuyết tật mạng dẫn đến hình thành các vết nứt tế vi, rồi các vết nứt này phát triển tạo nên sự phá hủy.

    Khả năng chống lại hiện tượng mỏi của vật liệu được gọi là độ bền mỏi. Trong phá hủy mỏi người ta quan tâm đến hai chỉ tiêu quan trọng là độ bền mỏituổi thọ chu kỳ.


    Lê Việt Anh @ 08:40 25/08/2012
    Số lượt xem: 526
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến
    print

    Bí mật